Vụ Hoàng Công Lương: Hóa chất tồn dư trong chạy thận nguy hiểm như thế nào?

Tại các kết luận giám định pháp y tử thi của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận, lý do tử vong đối có các nạn nhân chạy thận ở BVĐK tỉnh Hòa Bì

Giám đốc Sở Y tế Đắk Lắk nhận giải thưởng về cuộc thi Sáng tạo KH&CN Việt Nam
Quảng Ninh: Bắt giam kẻ đánh vợ dã man
Truyền máu của phụ nữ từng sinh con sẽ gây hại cho đàn ông?
Tại các kết luận giám định pháp y tử thi của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận, lý do tử vong đối có các nạn nhân chạy thận ở BVĐK tỉnh Hòa Bình là ngộ độc Florua/suy thận mạn, nồng độ Florua trong máu từ 0,05 mg/l đến 3,34 mg/l.

Theo Cáo trạng số 05/CT-VKS-P2 của Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Hòa Bình (VKS), hóa chất tồn dư ở hệ thống lọc RO số 2, đơn nguyên thận nhân tạo, BVĐK tỉnh Hòa Bình là các hóa chất chưa có trong danh mục hóa chất được phép dùng trong y tế. Bộ Y tế cũng chưa có văn bản nào cho phép sử dụng hóa chất HF và HCL để vệ sinh màng lọc nước, xúc rửa hệ thống lọc nước RO dùng cho chạy thận nhân tạo.

Đây là lý do gây nên cái chết của 9 nạn nhân trong sự cố y khoa trong chạy thận ngày 29/5/2017 (1 nạn nhân mất sau ngày 29/5).

Hoàng Công Lương (áo xanh bên trái) và hai bị cáo trong sáng nay, 21/5.

Tại kết luận giám định số 2778-A/C54 (P4), ngày 14/6/2017 của Viện Khoa học hình sự – Bộ Công an kết luận kết quả giám định các mẫu nước, dung dịch, hóa chất thu giữ ở hiện trường sư sau:

Mẫu nước (chất lỏng) thu ở đầu cấp vào máy lọc thận số 10 và số 13 ghi thu ngày 29/5/2017 gửi giám định có các chỉ tiêu chất lượng nước: độ PH rất thấp có giá trị lần lượt là 2,72 và 2,69 (PH axít); Độ dẫn điện rất cao có giá trị lần lượt là 898 và 892 micrôximen/cm; hàm lượng Florua (F-) lần lượt là 49,0 mg/l và 52,0mg/l, đây là hàm lượng cao gấp 245 và 260 lần mức cho phép (theo nguyên tắc AAMI có nước sử dụng cho chạy thận nhân tạo, hàm lượng Florua tối đa cho phép là 0,2mg/l). Các mẫu nước này đều không đạt nguyên tắc chất lượng nước sử dụng cho chạy thận nhân tạo theo nguyên tắc AAMI.

Mẫu chất lỏng thu ở cổng dịch của máy chạy thận nhân tạo số 7, số 12 và số 13 ghi thu ngày 29/5/2017 gửi giám định có hàm lượng Florua (F-) lần lượt là 46,0mg/l; 46,0mg/l và 48,0mg/l.

Mẫu chất lỏng chứa trong 18 quả lọc máu được đánh số 01 và từ 03 đến 19 ghi thu ngày 29/5/2017 gửi giám định đều có hàm lượng Florua rất cao có giá trị từ 5,0 đến 46.0mg/l.

Chất lỏng (thể tích 175ml) đựng trong 1 can nhựa loại 20l, trên nắp can có giấy niêm phong ghi “mẫu nước tiệt trùng hệ thống nước RO theo hợp đồng” ghi thu ngày 29/5/2017 gửi giám định, có tìm thấy thành phần Axít Clohyđric (HCL), hàm lượng 76,9g/l; Axít Flohyđric (HF) hàm lượng 72,1g/l.

Chất lỏng (thể tích 160ml) đựng trong 1 can nhựa loại 20l trên can có chữ “Dung dịch Javen”, trên nắp can có giấy niêm phong ghi “dịch tiệt trùng hệ thống nước RO theo hợp đồng” ghi thu ngày 29/5/2017 gửi giám định là dung dịch nước Javen (có thành phần Natri hypoclorơ). Hàm lượng Natri hipoclorơ (NaOCl) là 2,9%.

Bùi Mạnh Quốc, người trực tiếp sửa chữa hệ thống lọc RO số 2 và sử dụng hóa chất cấm trong quá trình sửa chữa.

Tại kết luận giám định số 2949-A/C54 (P4), ngày 14/6/2017 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

Mẫu nước đựng trong 01 xi lanh nhựa ngoại khu ghi “nước cấp vào máy số 4” ghi thu ngày 29/5/2017 gửi giám định có các chỉ tiêu chất lượng nước: Độ PH rất thấp có giá trị là 2,70 (PH axít); độ dẫn điện rất cao có giá trị là 1135 micrôximen/cm; Hàm lượng Florua (F-) là 57,5 mg/l, đây là hàm lượng cao gấp 287,5 lần mức cho phép (theo nguyên tắc AAMI có nước sử dụng cho chạy thận nhân tạo, hàm lượng Florua tối đa cho phép là 0,2mg/l). Mẫu nước này không đạt nguyên tắc chất lượng nước sử dụng cho chạy thận nhân tạo theo nguyên tắc AAMI.

Mẫu nước đựng trong 01 xi lanh nhựa ngoại khu ghi “nước cấp vào BN 04” ghi thu ngày 29/5/2017 gửi giám định có hàm lượng Florua (F-) là 45,5mg/l.

Tại kết luận giám định số 2779-/C54(P4), ngày 18/8/2017 của Viện khoa học hình sự – Bộ Công an có kết luận đối có các mẫu nước thu ở đầu các con phố ra của máy lọc nước RO số 2; mẫu nước thu ở bồn chứa của máy lọc nước RO số 2; mẫu nước thu ở đầu vòi nước vào bồn chứa khi không bật bơm của máy lọc nước RO số 2; mẫu nước thu ở hệ thống rửa quả lọc thận và mẫu nước thu ở bồn chứa nước rửa quả lọc thận. Các mẫu nước lần lượt có ký hiệu là N1, N2, N3, N4, N5. Giám định đối có hóa chất rửa quả lọc đựng trong can nhựa màu trắng, loại can 5 lít thu ở gầm bàn phòng rửa quả lọc thận; giám định 02 quả lọc thận đã qua sử dụng đã được súc rửa sạch thu ở phòng rửa quả lọc thận; giám định 03 can nước ký hiệu P1, P2, P3 thu ở phòng lọc máu số 01, 02, 03 đã qua lọc RO trước khi đưa vào máu để lọc thận:

Các mẫu nước có ký hiệu N1, N2, N3, N4, N5, P1, P2 và P3 gửi giám định đều có chỉ tiêu độ dẫn điện cao có giá trị từ 69,0 đến 173,1 µS/cm.

Mẫu ký hiệu N2 và P2 có chỉ tiêu florua (F) là 0,55 và 0,22 mg/l. Mẫu ký hiệu N1, N2 và N3 có chỉ tiêu nitrat (NO3) từ 2,3 đến 4,2 mg/l. Mẫu ký hiệu N1, N2, N3, P1, P2 và P3 có chỉ tiêu nhôm (Al) từ 0,32 đến 0,73 mg/l.

Theo nguyên tắc AAMI đối có nước sử dụng cho chạy thận nhân tạo hàm lượng tối đa các chất ô nhiễm cho phép: florua là 02 mg/l; nitrat là 2,0 mg/l; nhôm là 0,01 mg/l. Như vậy các mẫu nước có ký hiệu N1, N2, N3, P1, P2 và P3 đều không đạt nguyên tắc chất lượng nước sử dụng cho chạy thận nhân tạo.

Hóa chất rửa quả lọc thận đựng trong can nhựa màu trắng loại can 5 lít/can, thu ở gầm bàn pḥòng rửa quả lọc thận gửi giám định có thành phần gồm: axít peraxetic 4%; hydro peroxit 28% và axít axetic 8% như ghi trên nhãn.

Chất lỏng có trong 02 quả lọc thận đã qua sử dụng, đã được súc rửa sạch thu ở phòng rửa quả lọc thận gửi giám định đều không tìm thấy hóa chất, chất độc thường gặp.

Người nhà nạn nhân đang kê khai các khoản đề nghị BVĐK tỉnh Hòa Bình phải bồi thường.

Tại kết luận giám định số 3492/C54(P4), ngày 18/8/2017 của Viện khoa học hình sự – Bộ Công an kết luận đối có các chất lỏng trong 12 can nhựa được thu giữ trong quá trình khám xét:

Chất lỏng đựng trong can số 02 gửi giám định là dung dịch hỗn hợp: axít clohydric (HCl), và axít nitric (HNO3). Hàm lượng HCl là 258,57 g/l; hàm lượng HNO3 là 25,63 g/l.

Chất lỏng đựng trong can số 02 gửi giám định là dung dịch hỗn hợp: axít clohydric (HCl), và axít nitric (HNO3). Hàm lượng HNO3 là 837,0 g/l; hàm lượng HF là 0,895 g/l.

Chất lỏng đựng trong can số 04 gửi giám định là dung dịch hỗn hợp: axít clohydric (HCl), và axít nitric (HNO3). Hàm lượng HCl là 211,55 g/l; hàm lượng HNO3 là 72,0 g/l.

Chất lỏng đựng trong can số 05 gửi giám định là dung dịch hỗn hợp: axít clohydric (HCl), axít flohydric (HF) và axít nitric (HNO3). Hàm lượng HCl là 62,05 g/l; hàm lượng HF là 31,32 g/l; hàm lượng HNO3 là 61,23 g/l.

Chất lỏng đựng trong can số 06 gửi giám định là dung dịch hỗn hợp: axít clohydric (HCl), và axít nitric (HNO3). Hàm lượng HCl là 36,94 g/l; hàm lượng HNO3 là 7,41g/l.

Chất lỏng đựng trong can số 07 gửi giám định có hàm lượng axít nitric (HNO) là 147 mg/l.

Chất lỏng đựng trong can số 08 gửi giám định có hàm lượng axít clohydric (HCl), hàm lượng là 124,1 g/l.

Chất lỏng đựng trong can số 09 gửi giám định có hàm lượng axít clohydric (HCl), hàm lượng là 36,5 g/l.

Chất lỏng đựng trong can số 10 gửi giám định có hàm lượng axít clohydric (HCl), hàm lượng là 62,05 g/l.

Chất lỏng đựng trong can số 11 gửi giám định có hàm lượng axít nitric (HNO) là 81,3 mg/l.

Chất lỏng đựng trong can số 12 gửi giám định có hàm lượng axít nitric (HNO) là 132,1 mg/l.

Công văn số 4342/BYT-PC ngày 02/8/2017của Bộ y tế xác đinh:

Các quy định ở Phụ lục Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7183:2002 quy định nước dùng cho chạy thận nhân tạo phải đạt nguyên tắc AAMI do Hiệp hội vì sự phát triển của thiết bị y tế của Mỹ ban hành (tiếng Anh là Association for the Advancement of Medical Instrumentations và được gọi tắt là AAMI). Từ năm 2009, nguyên tắc AAMI là nguyên tắc quốc tế ISO 13959 (còn được biết dưới tên AAMI/ANSI/ISO 13959:2009), giai đoạn này đã được cập nhật đến năm 2014 (Tiêu chuẩn AAMI:2014). Đây là nguyên tắc được nhiều nước trên địa cầu tham khảo sử dụng, trong đây có Việt Nam.

Các nhà sản xuất hệ thống lọc nước RO cung cấp ở Việt Nam cũng đang ứng dụng nguyên tắc này làm nguyên tắc của nhà sản xuất. Điều này cũng thích hợp có quy định của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa và Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.

Việc tiệt trùng nước RO và xét nghiệm kiểm tra sinh hóa theo nguyên tắc AAMI sau sửa chữa, bảo trì về căn bản là thích hợp có quy định và thông lệ quốc tế bảo đảm chất lượng, an toàn cho người bệnh.

Sau khi sửa chữa, bảo trì hệ thống lọc nước RO số 2, để bảo đảm chất lượng nước trước khi đưa vào sử dụng chạy thận nhân tạo cho người bệnh nhất thiết phải làm xét nghiệm để kiểm tra xem chất lượng nước có thích hợp có nguyên tắc AAMI trên đây hay không. Việc xét nghiệm tồn dư hóa chất khi tiệt trùng, lọc nước, xúc rửa hệ thống lọc nước RO là ép buộc, đồng thời, khuyến cáo việc xét nghiệm thêm vi khuẩn và độc tố Endotoxin.

Việc xét nghiệm ép buộc có tồn dư hóa chất tẩy rửa hay không và xét nghiệm xem còn có vi khuẩn và độc tố Endotoxin sau khi sửa chữa, bảo trì thay thế là trách nhiệm của cơ sở bảo trì trước khi bàn giao cho Bệnh viện sử dụng.

Theo quy định của Luật Hóa chất thì các hóa chất dùng trong y tế phải thuộc danh mục hóa chất được phép dùng trong y tế do Bộ Y tế ban hành. Cho đến nay, các hóa chất này chưa có trong danh mục hóa chất được phép dùng trong y tế. Bộ Y tế cũng chưa có văn bản nào cho phép sử dụng hóa chất HF và HCL để vệ sinh màng lọc nước, xúc rửa hệ thống lọc nước RO dùng cho chạy thận nhân tạo. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có hệ thống lọc nước RO của Việt Nam cũng không dùng hóa chất này.

Trong ngày 21/5, đại diện gia đình 9 nạn nhân tử vong và các gia đình bệnh nhân may mắn thoát chết đã đồng loạt kiến nghị HĐXX tuyên bác sỹ Hoàng Công Lương vô tội, đồng thời tham khảo giảm án phạt cho hai bị cáo Bùi Mạnh Quốc (Giám đốc Công ty Trâm Anh – người trực tiếp dùng hóa chất để sục rửa màng lọc RO), Trần Văn Sơn (nhân viên Phòng Vật tư – Thiết bị, BVĐK tỉnh Hòa Bình).

Trao đổi có báo chí sau phiên tòa buổi sáng, bị cáo Hoàng Công Lương tỏ ra cảm kích trước tình cảm của người nhà các nạn nhân:

“Người nhà nạn nhân đã hiểu ra vấn đề về lý do dẫn đến tử vong, họ hiểu rằng vấn đề không phải ở bác sỹ. Nguyên nhân do tồn dư hoá chất trong quá trình sửa chữa bảo trì, bộ phận sửa chữa, bảo trì đã để tồn dư lượng hoá chất rất cao.

Tôi cũng như các nhân viên y tế khác đã làm hết trách nhiệm của mình. Sau khi xảy ra sự cố tôi đã vận dụng hết kiến thức được đào tạo và học hỏi, cũng như tận dụng tối đa thiết bị sẵn có ở trung tâm y tế để cắt giảm tối đa thiệt hại về người.



Tôi rất hy vọng phiên toà diễn ra 1 cách công tâm, đúng người đúng tội, đặc biếtj người nhà nạn nhân đã đồng hành có tôi trong quá trình xét xử thì tôi tin phiên toà sẽ được rõ ràng, minh bạch, xét xử đúng người đúng tội.”

Tìm hiểu thêm https://giakhanhland.vn/kien-thuc/