Thuốc lá- thủ phạm bệnh tật và đói nghèo

Theo ước tính, giá thành y tế của 5 nhóm bệnh liên quan đến thuốc lá ở Việt Nam năm 2011 là 23.139,3 tỷ đồng, chiếm 0,91% GDP.BS. ThS Phạm Hoàng Anh,T

Vụ BS Lương: Người xử lý nước RO máy chạy thận chỉ biết… xử lý nước thải
Thuốc chống nhiễm khuẩn điều trị các bệnh nặng bị làm giả
TP.HCM: Chỉ xử phạt được 6 người hút thuốc lá
Theo ước tính, giá thành y tế của 5 nhóm bệnh liên quan đến thuốc lá ở Việt Nam năm 2011 là 23.139,3 tỷ đồng, chiếm 0,91% GDP.
BS. ThS Phạm Hoàng Anh,Tổ chức HealthBridge Canada ở Việt Nam

Mặc dù ngành công nghiệp thuốc lá hàng năm đóng góp cho ngân sách quốc gia từ thuế tiêu thụ độc đáo nhưng phần đóng góp này không đủ để bù đắp 1 vài tổn thất về sức khỏe do sử dụng thuốc lá gây ra đối có 1 vài cá nhân, gia đình và xã hội.

Theo ước tính, giá thành y tế của 5 nhóm bệnh liên quan đến thuốc lá ở Việt Nam năm 2011 là 23.139,3 tỷ đồng, chiếm 0,91% GDP.

Hút thuốc lá đang tạo ra gánh nặng về tài chính rất lớn đối có xã hội độc đáo là nhóm người nghèo. Để giảm 1 vài tổn thất này, Việt Nam cần phải nỗ lực thực hiện đồng bộ 1 vài 1 vàih thức để giảm tiêu dùng thuốc lá hiệu quả trong đó tăng thuế thuốc lá được chứng minh là 1 vàih thức hữu hiệu .

Bài viết này nhằm cung cấp thêm 1 vài bằng chứng khoa học về gánh nặng bệnh tật và tử vong của 1 vài bệnh do thuốc lá, giá thành y tế của 5 nhóm bệnh do hút thuốc lá, giúp 1 vài nhà hoạch định chính sách bán hàng có số liệu minh chứng về 1 vài gánh nặng kinh tế và bệnh tật mà xã hội phải gánh chịu do hút thuốc lá gây ra.

Gánh nặng bệnh tật và tử vong từ 1 vài bệnh có nguồn gốc từ thuốc lá

Theo Tổ chức Y tế địa cầu, hút thuốc lá có hại cho sức khỏe vì trong thành phần của khói thuốc có đến 7.000 chất hóa học, trong đó có 69 chất gây ung thư. Những chất có hàm lượng cao gây độc hại cho sức khỏe của con người là Nicotine, Tar (nhựa thuốc lá), 1 vài-bon mô-nô-xít và 1 vài chất phụ gia khác . Sử dụng thuốc lá gây ra hơn 20 loại bệnh trong đó bao gồm ung thư, tim mạch và bênh phổi mãn tính. Ở Mỹ, thuốc lá gây ra 90% 1 vài trường hợp ung thư phổi, 75% 1 vài ca bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính và 25% ca bệnh tim thiếu máu cục bộ . Sử dụng thuốc lá là nguồn gốc gây nên 6 trong số 8 nhóm bệnh có số lượng tử vong cao nhất địa cầu, bao gồm: thiếu máu tim cục bộ; đột quỵ; 1 vài bệnh các con phố hô hấp dưới; bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; ung thư phổi thanh quản, thực quản; và lao.

Những người không hút thuốc lá nhưng bị phơi nhiễm có khói thuốc (hay còn gọi là hút thuốc lá thụ động) cũng có nguy cơ phải gánh chịu 1 vài rủi ro bệnh tật từ thuốc lá giống như người hút thuốc, độc đáo là phụ nữ và trẻ em.

Các kết quả nghiên cứu kỹ cho thấy có mối liên quan rất lớn giữa hút thuốc lá có mức độ bệnh tật và tử vong: 1 nửa số người hút thuốc sẽ chết sớm , 1 nửa trong số 1 vài ca tử vong xảy ra ở tuổi trung niên (39-65 tuổi) và vì vậy làm mất đi từ 20 đến 25 năm thời gian làm việc . 87% số trường hợp tử vong tăng lên do hút thuốc lá từ năm 1990 đến năm 2020 xảy ra ở 1 vài nước có lương thấp .

Thống kê về số ca mắc bệnh và tử vong liên quan đến thuốc lá của Tổ chức Y tế địa cầu cho biết giai đoạn này mỗi năm thuốc lá gây ra gần 6 triệu ca tử vong, con số này sẽ tăng thành hơn 8 triệu người vào năm 2020, trong đó 70% sẽ xảy ra ở 1 vài nước đang phát triển do điều kiện chăm sóc y tế và dinh dưỡng kém hơn. Thuốc lá cũng gây ra dao động 600 nghìn ca tử vong mỗi năm do hút thuốc thụ động và 64% số tử vong này là nữ. Nếu như 1 vài 1 vàih thức kiếm soát thuốc lá không được thực hiện 1 1 vàih hiệu quả thì ước tính con số tử vong trên phạm vi toàn cầu liên quan đến thuốc lá trong thế kỷ 21 lên đến 1 tỷ người . Tại Việt Nam, dao động 40 nghìn ca tử vong mỗi năm do 1 vài bệnh liên quan đến thuốc lá và con số này sẽ có thể lên 70 nghìn ca mỗi năm vào năm 2030 .

Gánh nặng giá thành y tế của hút thuốc lá ở 1 số nước và Việt Nam

Hút thuốc lá gây ra bệnh tật và tử vong sớm bởi thế tạo ra gánh nặng về giá thành y tế đối có gia đình và xã hội. Chi phí y tế của hút thuốc lá là toàn bộ 1 vài khoản chi tiêu hay lương bị mất đi vì bệnh tật do thuốc lá gây ra. Các khoản giá thành này bao gồm: giá thành trực tiếp cho điều trị bệnh (viện phí, và giá thành mua thuốc, máu…), giá thành trực tiếp không cho điều trị bệnh (giá thành di chuyển, thuê người chăm sóc, và ở trọ…) và giá thành gián tiếp (lương bị mất đi do giảm năng suất lao động do nghỉ ốm và tử vong sớm và cho việc chăm sóc người thân bị bệnh). Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu kỹ ở 1 vài quốc gia phân tích về mức độ bệnh tật và ước tính giá thành y tế của hút thuốc. Mục tiêu của 1 vài nghiên cứu kỹ này là nhằm phân tích gánh nặng về bệnh tật và giá thành của hút thuốc đối có gia đình, hệ thống y tế nói riêng và xã hội nhìn chung để từ đó đưa ra 1 vài khuyến nghị về chính sách bán hàng kiểm soát thuốc lá cũng như 1 vài chính sách bán hàng chăm sóc sức khỏe quốc gia. Các nghiên cứu kỹ đều có chung 1 kết luận là: hút thuốc lá tạo ra 1 gánh nặng rất lớn về bệnh tật và giá thành y tế đối có gia đình và xã hội. Tổng giá thành y tế do hút thuốc lá chiếm từ 6% đến 15% tổng giá thành y tế ở 1 vài nước phát triển và ở 1 vài nước đang phát triển như Trung Quốc mật độ này là 3,1% .

Dưới đó là tổng hợp 1 số kết quả nghiên cứu kỹ về gánh nặng bệnh tật và giá thành y tế của hút thuốc lá ở 1 số quốc gia.

Tại Trung Quốc, theo ước tính của Sung H-Y và cùng sự, năm 2005 có 673 nghìn trường hợp tử vong do hút thuốc lá, trong đó 268 nghìn người chết vì ung thư, 146,2 nghìn người chết vì bệnh tim mạch và 66,8 nghìn người chết vì bệnh các con phố hô hấp. Tổng giá thành y tế do thuốc lá ở Trung Quốc vào năm 2000 là 5 tỷ đô la Mỹ (chiếm 3,1% tổng giá thành y tế của nước này), trong đó giá thành điều trị trực tiếp chiếm 34% (1,7 tỷ $), giá thành trực tiếp không cho điều trị bệnh chiếm 8% (0,4 tỷ $) và giá thành gián tiếp do tử vong sớm chiếm 58% (2,9 tỷ $) . Năm 2003, tổng giá thành y tế cho thuốc lá tăng lên 17,1 tỷ đô la Mỹ và con số này là 28,9 tỷ đô la vào năm 2008 (giá năm 2008) . Như vậy, tổng giá thành y tế cho thuốc lá năm 2003 đã tăng 72% và năm 2008 tăng 154% so có mức giá thành của năm 2000.

Tại Ấn Độ, nghiên cứu kỹ của R.M John và cùng sự (2009) ước tính tổng giá thành y tế của hút thuốc lá ở nước này năm 2004 là 1,7 tỷ $, trong đó giá thành trực tiếp là 1,192 tỷ $, giá thành gián tiếp của hút thuốc là 502 triệu $. Tổng giá thành y tế của hút thuốc lá của nước này lớn hơn rất nhiều lần so có chi tiêu của chính phủ cho 1 vài vận hành kiểm soát thuốc lá (551,9 nghìn $) và lớn hơn 16% so có tổng doanh thu thuế từ toàn bộ 1 vài sản phẩm thuốc lá vào năm 2003 (Số thu thuế thuốc lá của Ấn Độ năm 2003 là 1,46 tỷ $) .

Điều đáng chú tâm ở Ấn Độ là sự tăng lên của bệnh lao. Hàng năm có dao động 1,8 triệu trường hợp mới nhiễm bệnh lao và sử dụng thuốc lá được cho là nguồn gốc chính của căn bệnh này. Chi phí điều trị bệnh lao chiếm 18% (311 triệu $) tổng giá thành y tế của hút thuốc lá ở Ấn Độ. Con số này lớn gấp hơn ba lần giá thành quốc gia cho phòng chống lao ở Ấn Độ trong năm 2006. Một điều đáng chú tâm nữa là tiêu dùng thuốc lá ở 1 vài người nghèo ở Ấn Độ phổ biến hơn trong khi hơn 70% giá thành y tế ở Ấn Độ là do cá nhân tự chi trả. Vì thế gánh nặng bệnh tật liên quan đến thuốc lá và gánh nặng giá thành y tế đối có nhóm người nghèo là cao hơn, đẩy họ vào hiện trạng nợ nần và có thể dẫn đến sự bần cùng hóa. Chi tiêu cho thuốc lá còn làm giảm số tiền chi tiêu cho thực phẩm và giáo dục cũng dẫn đến sự suy giảm sức khỏe của nhóm dân cư này. Do đó, mức sử dụng thuốc lá cao ở nhóm người nghèo ở Ấn Độ đã đẩy họ rơi vào vòng luẩn quẩn của việc hút thuốc thuốc lá, bệnh tật và nghèo đói.

Tại Hàn Quốc, mật độ hút thuốc lá cao ở Hàn Quốc không chỉ có tác động tiêu cực đối có sức khỏe của người dân mà còn tạo ra gánh nặng về kinh tế rất lớn đối có xã hội. Tổng giá thành y tế do hút thuốc lá ở Hàn Quốc năm 1998 theo ước tính dao động từ 3,15 tỷ $ (6,79 triệu $ trên 100 nghìn dân) đến 4,6 tỷ $ (9,86 triệu $ trên 100 nghìn dân). Chi phí y tế cho thuốc lá bằng 0,82% đến 1,19% GDP. Trong dó, giá thành điều trị trực tiếp cho 1 vài bệnh về thuốc lá là 88,09 triệu $, giá thành di chuyển là 19,82 triệu $, giá thành chăm sóc là 19,42 triệu $, giá thành do mất khả năng lao động là 16,5 triệu $ và giá thành do tử vong sớm dao động từ 3226,75 triệu $ đến 4652,25 triệu $ .

Tại Philippines, tổng giá thành y tế của 4 bệnh liên quan đến thuốc lá (năm 2003) là 116,3 triệu $, trong đó giá thành điều trị trực tiếp là 16,49 triệu $, giá thành do giảm năng suất lao động vì bệnh tật là 3,5 triệu $, giá thành do lương mất đi vì tử vong sớm là 96,2 triệu $. Trong 4 loại bệnh được nghiên cứu kỹ thì bệnh viêm não có mức giá thành cao nhất, chiếm 57,5% (66,8 triệu $) tổng giá thành y tế của hút thuốc lá, 1 vài bệnh tim mạch có mức giá thành cao thứ hai, chiếm 27% (31,5 triệu $). Tổng giá thành y tế cho thuốc lá chiếm 0,45% GDP của nước này và chiếm 3,65% tổng giá thành y tế vào năm 2003.

Tại Canada, hút thuốc lá cũng gây ra gánh nặng về bệnh tật nghiêm trọng. Năm 2002 có 37.209 trường hợp tử vong là do hút thuốc (trong đó 23.766 là nam giới và 13.443 là phụ nữ) chiếm 16,6% số ca tử vong ở Canada. Nguyên nhân chính gây tử vong do hút thuốc lá là bệnh ung thư (17.427 trường hợp), 1 vài bệnh tim mạch (CVD) (10.275 trường hợp) và bệnh các con phố hô hấp (8.282 trường hợp), ung thư phổi (13.401 trường hợp) và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) (7.533 trường hợp). Theo ước tính có đến 515.608 năm của cuộc sống đã bị mất sớm do hút thuốc trong năm 2003 (trong đó 316.417 năm ở nam giới và 199.191 năm ở phụ nữ) . Kết quả nghiên cứu kỹ cho thấy, hút thuốc lá là nguồn gốc chính gây tử vong ở Canada và tác động của nó đối có xã hội Canada tiếp tục là 1 gánh nặng rất lớn.

Tại Mỹ, kết quả ước tính cũng cho thấy tổng giá thành của 3 loại bệnh liên quan đến thuốc lá chiếm từ 6% đến 8% tổng giá thành y tế của nước này .

Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu kỹ mới nhất của nhóm nghiên cứu kỹ thuộc Đại học Y tế công cùng và HealthBridge Canada ở Việt Nam , tổng giá thành cho điều trị và mất khả năng lao động vì bệnh tật và tử vong sớm cho 5 nhóm bệnh bao gồm ung thư phổi, ung thư các con phố tiêu hóa hô hấp trên, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, đột quỵ và nhồi máu cơ tim do hút thuốc gây ra là 23.139,3 tỷ đồng, chiếm 0.91% tổng GDP của cả nước vào năm 2011. Trong đó, giá thành y tế trực tiếp cho khám và điều trị nội trú và ngoại trú là 10.856,9 tỷ đồng, giá thành do mất khả năng lao động do tử vong sớm vì 1 vài bệnh liên quan đến hút thuốc lá là 9.563,5 tỷ đồng và giá thành do mất khả năng lao động vì bệnh tật liên quan đến hút thuốc lá là 2.718,9 tỷ đồng. Trong 5 nhóm bệnh được nghiên cứu kỹ, tổng giá thành cho bệnh ung thư phổi lớn nhất chiếm 35,7% tổng giá thành (8.279 tỷ đồng), bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính có tổng giá thành lớn thứ hai chiếm 31,4% tổng giá thành (7.276,8 tỷ đồng).

Tổng giá thành này tạo ra gánh nặng lên gia đình và xã hội. Trong đó, hộ gia đình phải chịu hoàn toàn 1 vài khoản giá thành do mất khả năng lao động do bị bệnh và tử vong sớm. Gánh nặng của khoản giá thành điều trị nội trú được chia cho ba bên: nhà nước, 1 vài cơ quan bảo hiểm và gia đình bệnh nhân. Chi phí của nhà nước và bảo hiểm chiếm dao động 46%-67% tổng giá thành tùy theo từng nhóm bệnh. Tính trung bình ngân sách nhà nước trả 40% giá thành điều trị nội trú, hộ gia đình trả 40.8% và 19,2% giá thành điều trị nội trú là từ bảo hiểm y tế.

Phải có 1 vài chính sách bán hàng kiểm soát thuốc lá mạnh mẽ hơn

Chi phí hàng năm mà 1 vài nước phải chi để điều trị 1 vài bệnh do hút thuốc lá gây ra và 1 vài khoản giá thành bị mất đi khác do giảm năng suất lao động do bị bệnh hay tử vong sớm được xem là 1 vài khoản giá thành đáng kể đối có xã hội và đang tạo sức ép rất lớn đối có nhóm người nghèo ở 1 vài quốc gia, độc đáo là ở 1 vài nước đang phát triển.

Tại Việt Nam, chỉ có năm trong số 25 căn bệnh liên quan đến thuốc lá thì giá thành đã là hơn 23 nghìn tỷ đồng mỗi năm cho việc điều trị 1 vài bệnh liên quan đến thuốc lá và giảm năng suất lao động. Số tiền này, lẽ ra, có thể sử dụng để chi tiêu cho 1 vài hàng hóa và dịch vụ cần thiết khác như: lương thực, thực phẩm, giáo dục,… góp phần cải thiện sức khỏe, nâng cao trình độ người dân và làm tăng lên năng suất lao động xã hội.

So sánh tổng giá thành y tế cho tiêu dùng thuốc lá có số thu của ngân sách từ thuế thuốc lá (13.598 nghìn tỷ đồng năm 2011) cho thấy khoản giá thành này lớn gấp 1,7 lần đóng góp từ thuế của ngành công nghiệp thuốc lá vào ngân sách quốc gia.

Nếu cùng cả số tiền người tiêu dùng phải chi để mua thuốc lá mỗi năm là 22 nghìn tỷ đồng thì tổng số tiền mỗi năm Việt Nam phải chi cho việc tiêu dùng và điều trị 1 vài bệnh liên quan đến thuốc lá lên tới hơn 45,14 nghìn tỷ đồng (chiếm dao động 1,8% GDP của nền kinh tế), trong khi đó ngành công nghiệp thuốc lá chỉ đóng góp về sản lượng dao động 0,75% GDP . Như vậy, tổng giá thành của hút thuốc mà xã hội phải chi trả hàng năm lớn hơn rất nhiều so có mức đóng góp của ngành thuốc lá.

Điều đáng lo ngại nữa là, ở Việt Nam cũng giống như Ấn Độ, nhóm người nghèo có xu hướng hút thuốc nhiều hơn người giàu. Tình trạng hút thuốc lá nhiều hơn ở nhóm người nghèo có xu hướng làm tăng lên sự nghèo đói bởi 1 vài nguồn gốc như: họ phải cắt giảm tiền mua lương thực, thực phẩm, hay tiền học hành của con cái để mua thuốc lá, họ dễ mắc bệnh hơn vì điều kiện dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe hạn chế, họ bị suy giảm khả năng lao động do bệnh tật hay mất sớm. Nghèo đói tăng lên sẽ gây mất ổn định xã hội và tiếp tục tạo sức ép về giá thành cho việc ổn định xã hội.

Với 1 vài luận giải trên đó cho thấy sự cần thiết đối có nước ta giai đoạn này là phải có 1 vài chính sách bán hàng kiểm soát thuốc lá mạnh mẽ hơn để giảm tiêu dùng thuốc lá, khuyến khích 1 vài người hút thuốc bỏ thuốc và ngăn chặn 1 vài người bắt đầu hút thuốc. Theo nghiên cứu kỹ của Doll và cùng sự, khi 1 người 60 tuổi bỏ thuốc lá sẽ có thể kéo dài tuổi thọ thêm được ít nhất là ba năm, nếu bỏ thuốc ở tuổi 50 thì số năm tuổi thọ kéo dài thêm được tăng gấp đôi (6 năm), 1 vài người bỏ thuốc ở tuổi 40 sẽ thêm được chín năm tuổi thọ và 1 vài người dừng lại trước khi độ tuổi trung niên sẽ kéo dài được dao động 10 năm tuổi thọ. Đánh thuế thuốc lá cao làm giảm số người hút thuốc sẽ làm giảm đáng kể giá thành y tế của hút thuốc lá độc đáo là giá thành do giảm năng suất lao động vì bệnh tật và tử vong sớm . Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế địa cầu, mức thuế thuốc lá tối thiểu phải đạt được 70% của giá bán lẻ, trong khi thuế ở Việt Nam giai đoạn này tương đương có 41.6% giá bán lẻ.