Ngày ấy và bây giờ của em bé đầu tiên trên thế giới sinh ra trong ống nghiệm

Cách đấy 40 năm, em bé Thứ nhất trong ống nghiệm ra đời trong nhiều tranh cãi. Đến nay, biện pháp thụ tinh trong ống nghiệm đã giúp hơn 6,5 triệu ngườ

Chưa tìm ra nguồn lây HIV cho 42 người một xã ở Phú Thọ
TP.HCM: Kiểm tra các cơ sở bánh trung thu
Bác sỹ bị phạt từng viết kiểm điểm mong Bộ trưởng Y tế “giơ cao đánh khẽ”
Cách đấy 40 năm, em bé Thứ nhất trong ống nghiệm ra đời trong nhiều tranh cãi. Đến nay, biện pháp thụ tinh trong ống nghiệm đã giúp hơn 6,5 triệu người có mặt trên địa cầu này.
Vợ chồng Brown bên Louise – đứa trẻ Thứ nhất sinh ra trong ống nghiệm. Ảnh: People.

Vào ngày Louise Brown ra đời, 25/7/1978, mẹ của cô – bà Lesley Brown – được đưa tới khu sinh mổ ở trọng điểm y tế trong bóng tối, chỉ có 1 cây đèn pin rọi những con phố. Chỉ những nhân viên biết bà là ai, và cha mẹ Louise không muốn những người khác nhận ra bà và lôi kéo sự chú tâm của truyền thông.

Sự ra đời của Louise được giữ bí mật. Ngay cả lần đầu cha của cô – ông John Brown – được bế con gái mình ở Bệnh viện Oldham General (Manchester, Anh) cũng diễn ra dưới sự giám sát của cảnh sát, những người đứng đầy hành lang ngoại khu.

Đó là vì Louise là đứa trẻ “sinh ra trong ống nghiệm” Thứ nhất trên địa cầu.

Chính xác hơn, cô là đứa trẻ Thứ nhất được sinh ra nhờ biện pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Theo sự phát triển của khoa học và công nghệ, tới nay có dao động 6,5 triệu người đã được sinh ra nhờ biện pháp này. Tuy nhiên, vào năm 1978, đấy chỉ là biện pháp thử nghiệm, và Tiến sĩ Mike Macnamee, Giám đốc của trọng điểm IVF Thứ nhất trên địa cầu – Bourn Hall ở Cambridge, Anh – tin rằng Louise “thực sự là 1 phép màu”.



IVF – phép màu của y học


10 năm trước khi Louise chào đời, bác sĩ phụ khoa Patrick Steptoe và nhà sinh lý học Robert Edwards đã bắt tay hợp tác có nhau. Những kỹ năng của họ bổ sung cho nhau 1 nhữngh lý tưởng: Edwards đã tìm được nhữngh thụ tinh cho trứng trong phòng thí nghiệm và Steptoe phát triển được biện pháp lấy trứng từ buồng trứng của người mẹ.

Họ đã thất bại hàng trăm lần, cho tới khi gặp bà Lesley Brown, mẹ của Louise. Sau 9 năm chẳng thể có con – bà Lesley bị tắc ống dẫn trứng và vẫn chẳng thể có con sau phẫu thuật thất bại, vợ chồng Brown chọn lọc thử biện pháp mới, dù thời cơ thành công chỉ là “1 trong 1 triệu”, vì khát khao có con cháy bỏng.

Tháng 10/1977, trứng đã thụ tinh được cấy vào tử cung của bà Lesley, và bà đã có thai thành công. Chín tháng sau, Louise ra đời. Đây là thành tựu lịch sử của khoa học vô tiền khoáng hậu, đến mức việc Lesley lâm bồn phải được ghi hình – dưới sự đồng ý của chính phủ – để có bằng chứng rằng Louise thực sự là do bà Lesley sinh ra.

Ngay cả trước khi được mẹ ôm vào lòng lần Thứ nhất, Louise phải trải qua 60 bài kiểm tra khác nhau để chắc chắn rằng cô bé “hoàn toàn lẽ thường”.

Kỹ thuật thời Lesley dĩ nhiên khác xa thời tân tiến, nhưng đây là 1 bước tiến đáng nể của y học. Sau khi Steptoe và Edwards tìm được nhữngh thụ tinh cho trứng, họ sớm giới hạn số lượng phôi thai được cấy vào cơ thể người mẹ, tránh hiện trạng có quá nhiều thai.

Sự phát triển của kỹ thuật đông lạnh vào giữa thập niên 80 của thế kỷ XX cho phép bác sĩ cấy 1 hoặc hai phôi thai vào người mẹ, sau đây đông lạnh số phôi thai còn lại để sử dụng trong tương lai, giúp người mẹ không phải trải qua quá trình kích và hút trứng lần nữa.

Sự ra đời của Louise đánh dấu 1 bước tiến quan trọng của y học. Ảnh: Alamy.

Khi công nghệ siêu âm phát triển, những bác sĩ có thể gây mê cho người mẹ để lấy trứng ra bằng đầu dò trong khi gây mê nhẹ, thay vì dùng biện pháp soi ổ bụng như cũ. Các kỹ thuật vào cuối những năm 1980 tạo sự khác biệt lớn trong việc điều trị vô sinh ở nam, bằng nhữngh bơm trực tiếp tinh trùng đơn vào trứng.

Những bước nền móng đây khiến mật độ thành công của mỗi đợt IVF từ 10% vào đầu những năm 1980, khi Tiến sĩ Mcnamee mới bắt đầu trộn trứng có tinh trùng trên 1 đĩa petri, tăng lên đến 40%. Từ khi Louise ra đời vào năm 1978 đến nay, dao động 6,5 triệu người trên địa cầu đã được sinh ra nhờ IVF. Tuy nhiên, khi mới được mở bán, biện pháp này đã gây nhiều tranh cãi.



Trái quy luật môi trường xung quanh?


Louise Brown được 1 số gọi là “đứa trẻ thế kỷ” và bị 1 số người cho là “sự ghê tởm về đạo đức”. Tất nhiên, Louise không phải là người bị chỉ trích về đạo đức – cô chỉ là 1 đứa trẻ sơ sinh vô tội. Thay vào đây, chính những bác sĩ thực hiện biện pháp này lại bị lên án. Các nhà thần học cho rằng IVF là biện pháp “trái môi trường xung quanh”, và những nhà đạo lý sinh học vạch ra nguy cơ cho những bà mẹ và trẻ em. Giáo hoàng Francis nói rằng biện pháp này khiến trẻ em trở thành “1 ích lợi thay vì 1 món quà” và đang “đùa giỡn có sự sống”. Vatican còn cho rằng sự kiện này “có thể sẽ đem lại hậu quả khủng khiếp cho nhân loại”.

Tuy nhiên, vào tháng 8/1978, Hồng y giáo chủ Luciani – người sau đây không lâu trở thành Giáo hoàng John Paul I – bất ngờ từ chối chỉ trích cha mẹ Louise vì sử dụng biện pháp IVF, cho rằng họ dễ làm là muốn có con. Sau này, Louise cho biết: “Điều đây giúp cắt giảm những điều tiêu cực người khác nói. Mẹ tôi nhận được nhiều thư, chủ yếu là tích cực, nhưng cũng có 1 số biểu hiện sự thù ghét. Họ nhận được 1 chiếc hộp đến từ Mỹ có ống nghiệm vỡ, máu giả và 1 phôi thai giả nội khu. Chiếc hộp kèm theo lời đe dọa rằng người gửi nó sẽ tới gặp bố mẹ tôi”. Có người còn đồn đại rằng Louise có những khả năng siêu nhiên, như đọc được tâm trí người khác hay dịch chuyển tức thời.

Việc tranh cãi xung quanh sự ra đời của Louise là điều dễ hiểu. Suy cho cộng đấy là 1 nhữngh hoàn toàn mới để những cặp vợ chồng hiếm muộn có con. Nhưng đứa trẻ không được thụ tinh trong tử cung của người mẹ, mà bắt đầu sự sống trong 1 ống nghiệm. Môi trường khác biệt làm dấy lên lo sợ về việc phôi thai sẽ phát triển bất thường. Trong vòng 1 thập kỷ, những dữ liệu y khoa thực tại về IVF đã xóa bỏ những lo ngại này. IVF cũng dần được đồng ý về mặt đạo đức, ngay cả có những tín đồ theo Công giáo La Mã.

Cuộc sống của Louise

Ngày nay, biện pháp từng gây nhiều tranh cãi của 40 năm trước đã trở thành 1 phần của cuộc sống. Sự ra đời của Louise có thể là 1 phép màu, nhưng cô sống 1 cuộc đời lẽ thường, như 1 người lẽ thường – điều mẹ cô mong muốn. Cô làm công việc văn phòng ở 1 đơn vị vận chuyển trong khi chồng cô làm nhân viên giữ cửa ở khách sạn. Cô có hai con đang đi học, có 1 ngôi nhà đầy thú cưng.

Cô nói chuyện có chồng về sự ra đời của mình vài tháng sau khi bắt đầu hẹn hò. Đó không phải điều gì mới lạ có anh: anh sống cộng khu phố có Louise hồi cô còn nhỏ, và lớn hơn cô 7 tuổi. Khi cô được bố mẹ đưa từ trọng điểm y tế về nhà, những đứa trẻ trong vùng tụ tập ngoài nhà cô và nói: “Em bé ống nghiệm về nhà rồi”. Chồng cô nằm trong số những đứa trẻ đây.

Cô được nuôi dưỡng 1 nhữngh thực tại như những đứa trẻ lẽ thường. Louise nói: “Mẹ nhận ra dù tôi là con của bà, bà phải chia sẻ tôi có địa cầu. Bà bảo vệ tôi, nhưng không quá mức. Tôi không nghĩ họ sẽ nuôi dạy tôi theo nhữngh khác nếu sinh tôi 1 nhữngh môi trường xung quanh”. Gia đình cô đi tới nhiều quốc gia trong những năm đầu đời của Louise, nhưng khi cô đến tuổi đi học, gia đình chỉ nhận những buổi phỏng vấn do Edwards và Steptoe yêu cầu.

Louise biết được điều đặc thù về sinh trong ngày Thứ nhất đến trường năm 4 tuổi, khi cha mẹ cho cô xem 1 đoạn video: “Họ nói rằng tôi được sinh ra hơi khác và nói trước cho tôi biết”. Cha mẹ cô đã đúng: người ta bàn tán về Louise ở trường. Cô nhớ lại: “Tôi luôn có thân hình mũm mĩm, và họ hay bảo làm sao tôi chui vừa ống nghiệm được. Nhưng họ không có ác ý gì, dĩ nhiên sẽ có bàn tán vì thời đây đấy là 1 điều thực sự khác thường. Tôi chẳng bao giờ chú tâm tới chuyện bị gọi là đứa trẻ Thứ nhất trong ống nghiệm. Ngày nay, mọi người chẳng ai biết khách mua học của mình được sinh ra như thế nào”.

Bốn năm sau khi Louise ra đời, em gái Natalie của cô trở thành người thứ 20 sinh ra nhờ IVF, nhưng họ không nói gì nhiều về điều này. Cô cho biết: “Chúng tôi có 1 cuộc sống lẽ thường, chỉ là thêm IVF. Chúng tôi có trả lời phỏng vấn và chụp ảnh, nhưng cuộc sống ở nhà thì chẳng liên quan gì đến IVF”.

Louise và em gái có con 1 nhữngh môi trường xung quanh và sống cuộc đời bình dị, hạnh phúc. Ảnh: Daily Mail

Tháng 5/1999, Natalie trở thành đứa trẻ sinh ra trong ống nghiệm Thứ nhất sinh con. Việc thụ thai và sinh con của cô hoàn toàn môi trường xung quanh, xóa bỏ lo ngại rằng trẻ nữ sinh nhờ IVF sẽ chẳng thể tự có thai như lẽ thường. Năm 2006, Louise cũng sinh 1 bé trai và sau này có thêm 1 bé trai nữa, cũng hoàn toàn môi trường xung quanh. Cha cô qua đời trước khi Louise sinh con đầu lòng 2 tuần, và mẹ cô qua đời ở tuổi 64.

Louise cho biết cô thực sự nhận ra việc mình được sinh ra là 1 đặc quyền: “Thật hoàn hảo khi nghĩ toàn bộ bắt đầu từ cha mẹ tôi, Patrick và Bob. Nhiều người nói có bố mẹ tôi rằng, nếu không nhờ cha mẹ tôi, họ sẽ không bao giờ có con”.



Tương lai của IVF


Theo Tiến sĩ Macnamee, thời cơ thành công của biện pháp IVF sẽ càng ngày càng tăng trong tương lai, và ông hy vọng sẽ thấy mật độ thành công của IVF đạt 60% trước khi về hưu. Một trong những lĩnh vực chờ mong là khám phá nhữngh phôi thai bám vào tử cung khi được cấy – lý do được nhiều người cho rằng chọn lọc sự thành công của IVF.

Những tranh cãi quanh biện pháp IVF từ khi Louise ra đời đến nay gần như đã được xóa bỏ, nhưng nhiều biện pháp hỗ trợ sinh sản mới, như có thai hộ hay con của 3 người (dùng hai trứng và 1 tinh trùng để loại bỏ gene bệnh) vẫn nhận được nhiều sự chỉ trích trên địa cầu. Tuy nhiên, Louise vẫn lạc quan về tương lai và cho rằng chỉ khi khách mua ở trong tình cảnh gắng sức có con, khách mua mới có thể hiểu được. Cô nhận định: “Mọi người bảo có tôi rằng “khoa học cũng chỉ được đến thế thôi”, nhưng miễn là những tiến bộ y khoa đây dùng để giúp đỡ mọi người – và dùng cho lý do y học – tôi hoàn toàn ủng hộ”.

Theo zing.vn