Kinh nghiệm của Brazil, Phillipine và Thổ Nhĩ Kỳ về thuế thuốc lá

Tăng mạnh thuế TTĐB hàng năm theo công đoạn trong GĐ 2013 – 2017, tăng giá thuốc lá… là một vài chính sách bán hàng mạnh mẽ nhằm phòng chống tác hại t

Ngực phụ nữ thay đổi như thế nào theo thời gian?
Pha sữa thế nào để trẻ không ngộ độc?
Quả mướp đắng hỗ trợ giảm cân, giúp đẹp da và tốt cho nhiều bệnh khác
Tăng mạnh thuế TTĐB hàng năm theo công đoạn trong GĐ 2013 – 2017, tăng giá thuốc lá… là một vài chính sách bán hàng mạnh mẽ nhằm phòng chống tác hại thuốc lá mà 1 số một vài quốc gia đang thực hiện.

Vì thế, việc tăng thuế thuốc lá không ngừng nghỉ – được chứng minh là chính sách bán hàng cùng thắng (Win – Win).

Xét tổng thể tăng thuế thuốc lá có lại lợi ích cho toàn xã hội về cả sức khỏe và kinh tế.

Báo điện tử Infonet xin đăng loạt bài viết của giảng viên trường ĐH Thương Mai Nguyễn Thị Thu Hiền nhằm đánh giá một vài lợi ích từ việc tăng thuế đối có thuốc lá, bí kíp của 1 số nước trong cải một vàih thuế thuốc lá và bài học cho Việt Nam.

Cải một vàih thuế thuốc lá của Philippines

Trước năm 2013, Philippine ứng dụng hệ thống thuế TTĐB đa cấp (Multi-tiered tax system) đối có thuốc lá. Theo đấy, Nhà nước quy định 4 mức thuế khác nhau ứng dụng cho 4 dòng sản phẩm khác nhau theo tiêu chuẩn dòng sản phẩm đẳng cấp phải chịu mức thuế suất cao hơn và giảm dần đối có một vài dòng sản phẩm thấp cấp. Việc phân cấp thuốc lá được dựa vào mức giá ở năm 1996 và giữ nguyên cho đến hết năm 2012. Cơ sở để tính thuế là giá bán lẻ thuốc lá (trước thuế), một vài mức giá này cũng được xác định ở thời điểm năm 1996.

Hệ thống thuế này đã được Philippines duy trì trong suốt 16 năm từ 1996 đến 2012 và đã bộc lộ rất nhiều hạn chế. Hạn chế căn bản là thuế và giá tính thuế đã không được điều chỉnh để bắt kịp có sự tăng thêm của lương và lạm phát dẫn đến giá thực của thuốc lá giảm mạnh. Giá thực của đa số một vài nhãn hiệu thuốc lá phổ biến ở nước này giảm từ 9% – 18% trong 10 năm từ 2000 – 2010. Tỷ lệ thuế trong giá bán lẻ ở mức khá thấp chỉ chiếm 36,1% giá bán lẻ và giá bán lẻ thuốc lá ở Philippines cũng thuộc nhóm thấp nhất địa cầu.

Giá thuốc lá thấp và giảm trong khi lương bình quân đầu người tăng đã làm cho sức mua một vài sản phẩm thuốc lá càng ngày càng tăng ở nước này và làm tăng nhu cầu tiêu dùng. Thống kê về tình hình hút thuốc lá ở Philippines cho thấy đấy là 1 trong một vài quốc gia có số người hút thuốc lá nhiều nhất ở khu vực Đông Nam Á có hơn 19 triệu người hút thuốc chiếm mật độ hơn 30% dân số. Hút thuốc trong giới trẻ cũng là 1 vấn đề nghiêm trọng ở Philippines, có tới gần 23% trẻ em trong độ tuổi từ 13 – 15 tuổi hút thuốc. Chi phí cho hút thuốc ở mức cao. Mỗi năm chi tiêu cho hút thuốc ở quốc gia này chiếm tới 7% GDP. Ngoài ra kinh phí cho điều trị 4 loại bệnh liên quan đến hút thuốc là 44,6 tỷ peso/năm và mức giảm năng suất lao động do hút thuốc gây thiệt hại gần 270 tỷ peso mỗi năm .

Nhằm giảm gánh nặng về sức khỏe và kinh tế – xã hội do thuốc lá gây ra, năm 2012 Philippine đã thông qua Chương trình hành động số 10351 nhằm cải một vàih hệ thống thuế thuốc lá. Chương trình này được coi như 1 bước tiến lớn về pháp lý cho nhu cầu cải một vàih thuế thuốc lá mà thất bại trong suốt 16 trước đấy. Những nội dung căn bản của chương trình cải một vàih về thuế thuốc lá ở Philippines gồm có:

Xóa bỏ một vài đặc quyền đối có 1 số một vài doanh nghiệp thuốc lá, hướng tới việc giảm mật độ hút thuốc càng sớm càng tốt đặc trưng là giảm hút thuốc ở người nghèo và thanh thiếu niên. Đồng thời tăng nguồn thu cho một vài chương trình/quỹ chăm sóc sức khỏe cùng đồng.

Xóa bỏ cơ chế phân cấp thuốc lá theo mức giá cố định năm 1996. Định kỳ 2 năm 1 lần sẽ thực hiện phân cấp lại theo mức giá hiện hành của phân khúc.

Giảm mức phân cấp thuốc lá từ 4 cấp xuống còn 2 cấp từ năm 2013 và chỉ còn 1 cấp vào năm 2017.

Tăng mạnh thuế TTĐB hàng năm theo công đoạn trong GĐ 2013 – 2017 (biểu hiện ở Bảng 1). Đến năm 2017, toàn bộ một vài loại thuốc lá đều chịu chung 1 mức thuế TTĐB trên giá bán lẻ là 30%.

Từ năm 2018, bình quân mỗi năm sẽ tăng thuế thêm 4% (thuế tính trên giá bán lẻ thuốc lá) để theo kịp lạm phát.

Theo ước tính, nếu thuế tăng đạt mức là 28,3 peso 1 bao và chiếm mật độ 53,8% giá bán lẻ thuốc lá thì sẽ có một vài tác động tích cực như sau: khuyến khích 4 triệu người hút thuốc bỏ thuốc; ngăn cản 4,2 triệu thanh thiếu niên không bắt đầu hút thuốc; giảm 3,5 triệu ca chết sớm do hút thuốc; và thu thuế của chính phủ tăng thêm 53,8 tỷ peso (tương đương 1.2 tỷ đôla Mỹ).

Với sự cải một vàih mạnh mẽ về cơ cấu và mức thuế, sau 1 năm thực hiện Philippines cho thấy đã thu được kết quả tích cực. Kết quả thu được năm 2013 như sau:

Mức thuế trung bình tính trên mỗi bao thuốc (20 điếu) tăng 150%, từ mức 5,58 peso tăng lên 13,95 peso đã tác động làm tăng giá thuốc lá.

Giá của thuốc lá đẳng cấp tăng nhanh hơn thuốc lá thấp cấp, người tiêu dùng chuyển sang tiêu dùng một vài loại thuốc lá có mức giá thấp hơn.

Quỹ chăm sóc sức khỏe (DOH) của quốc gia thu từ thuế thuốc lá tăng mạnh: năm 2013 số thu đạt 53,3 tỷ peso tăng 26,3% so có năm 2012. Dự báo năm 2014 nguồn thu cho quỹ này sẽ đạt 83,7 tỷ peso tăng 57%. Đồng nghĩa có việc sẽ có nhiều người nghèo được chăm sóc sức khỏe tốt hơn.

Thổ Nhĩ Kỳ

Thổ Nhĩ Kỳ được xem như 1 quốc gia có chính sách bán hàng kiểm soát thuốc lá mạnh mẽ. Giai đoạn 2005 – 2009, nước này đánh thuế TTĐB lên đến 55% trên giá bán lẻ thuốc lá và đồng thời quy định về mức sàn thuế đơn vị. Nghĩa là, nếu tính thuế mật độ mà số thuế phải nộp nhỏ hơn mức sàn thuế đơn vị thì chính phủ sẽ áp mức thuế sàn đơn vị thay cho thuế mật độ. Ngoài ra, toàn bộ một vài sản phẩm phải chịu thuế giá trị tăng thêm là 18% giá bán lẻ. Mặc dù đánh thuế khá cao đối có thuốc lá nhưng mật độ thuế không một vàih tân suốt GĐ 2005 – 2009 nên giá thuốc lá thực cũng có xu hướng giảm và sức mua thuốc lá tăng lên ở nước này. Năm 2010, có gần 1 phần ba (31%) người trưởng thành (trên 15 tuổi) ở Thổ Nhĩ Kỳ hút thuốc (nam giới 48%; nữ 15%), 7% giới trẻ (13-15 tuổi) hút thuốc lá.

Năm 2010, Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện tăng thuế TTĐB lên 63% trên giá bán lẻ và tăng mức sàn thuế đơn vị lên 2,55 Lira. Năm 2011, nước này tiếp tục tăng thuế thêm 2 điểm phần trăm lên mức 65% giá bán lẻ và mức sàn thuế đơn vị tăng từ 2,65 Lira lên 2,95 Lira. Với cơ cấu thuế này, tổng thuế (bao gồm thuế giá trị tăng thêm) tính trung bình chiếm 80,25% giá bán lẻ thuốc lá.

Với sự một vàih tân của chính sách bán hàng thuế đối có thuốc lá một vài lợi ích mà quốc gia này thu được ban đầu là: (1) Giá bán lẻ của thuốc lá thấp cấp tăng gấp 3 lần từ năm 2005 đến năm 2011, trong khi một vài loại thuốc lá đẳng cấp tăng 128% trong cùng GĐ này. Tính trung bình giá thuốc lá tăng 195%; (2) Mức tiêu thụ thuốc lá giảm từ 106,7 tỷ điếu năm 2005 xuống còn 90,8 tỷ điếu vào năm 2011; (3) Doanh thu từ thuế thuốc lá của chính phủ tăng 124% (từ 7,1 tỷ Lira năm 2005 lên 15,9 tỷ Lira năm 2011); (3) Tăng giá thuốc lá năm 2010 làm giảm số người hút thuốc tới 590.000 người và cứu sống 340.000 người.

Brazil

Tương tự như Philippine, GĐ 2000 – 2006, Brazil ứng dụng cơ cấu thuế TTĐB đa cấp đối có thuốc lá. Việc phân cấp thuốc lá được giữ cố định ở năm 2000. Thuế suất thuế TTĐB cũng ở mức khá thấp và một vàih tân thuế suất luôn duy trì dưới mức lạm phát. Điều này dẫn đến thuế TTĐB thuốc lá trong giá bán lẻ thấp và giảm từ 30,2% năm 2000 xuống chỉ còn 19,7% vào năm 2006. Trong hệ thống thuế này, số thu ngân sách từ thuế thuốc lá cũng giảm theo thời gian.

Từ năm 2007 – 2011, nước này đã thực hiện nhiều lần điều chỉnh thuế và mức tăng thuế được thiết lập cao hơn so có mật độ lạm phát. Năm 2012, Brazil chuyển sang ứng dụng hệ thống thuế hỗn hợp gồm thuế đơn vị (2 mức) và thuế mật độ (1 mức). Theo luật thuế của nước này, thuế tuyệt đối được điều chỉnh hàng năm bằng mức lạm phát chuẩn bị. Từ năm 2015, sẽ điều chỉnh chỉ còn 1 mức thuế đơn vị. Mức thuế theo tỉ lệ phần trăm tăng thêm mỗi năm.

Việc điều chỉnh cơ cấu thuế và tăng thuế liên tục từ 2007 – 2012 làm tăng giá bán lẻ thuốc lá ở nước này. Từ năm 2006 đến năm 2012, thuế TTĐB cho mỗi bao thuốc lá tăng 116% đã làm tăng giá thực của thuốc lá 74%. Giá trung bình 1 bao 20 điếu tăng từ 2,19 Reais năm 2006 lên 5,5 Reais năm 2013. Trong GĐ này, tiêu dùng thuốc lá trong nước giảm 32% (từ 5,56 tỷ bao năm 2006 xuống 3,8 tỷ bao năm 2013). Số thu ngân sách của chính phủ từ thuế thuốc lá (TTĐB) tăng 48% (từ 3,5 tỷ Reais năm 2006 lên 5,1 tỷ Reais năm 2013). Không một vài góp phần làm tăng thu ngân sách, tăng thuế TTĐB còn làm giảm mật độ hút thuốc của nước này đáng kể: mật độ hút thuốc ở người lớn đã giảm hơn 4 điểm phần trăm từ mức 15,7% năm 2006 xuống còn 11,3% năm 2013 (giảm hơn 1/4 mật độ hút thuốc). Số người hút thuốc giảm từ 21,35 triệu người vào năm 2006 xuống còn 17,1 triệu người năm 2013.

Mặc dù tăng thuế TTĐB nhưng mật độ thuế TTĐB trên giá bán lẻ ở nước này cũng chỉ đạt 24,4% vào năm 2013. Tuy nhiên, tổng một vài loại thuế trên giá bán lẻ tăng và ở mức cao, tăng từ 55,6% năm 2006 lên 60,4% năm 2013. Như vậy, ngoài thuế TTĐB, nước này còn đánh một vài loại thuế gián thu khác đối có thuốc lá và chúng có vai trò quan trọng để giữ giá thuốc lá ở mức cao.

Bài học bí kíp cho Việt Nam

Từ một vài kết quả đánh giá về lợi ích của tăng thuế thuốc lá và một vài bí kíp thực ở về cải một vàih thuế thuốc lá ở một vài quốc gia trên đấy cho thấy rằng việc tăng thuế thuốc lá là 1 chính sách bán hàng cùng thắng (win – win) vì vừa có vai trò hạn chế tiêu dùng hiệu quả lại vừa có lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Xét về tổng thể, tăng thuế thuốc lá có lại lợi ích cho toàn xã hội về cả sức khỏe và kinh tế.

Để nâng cao hiệu quả của thuế trong việc hạn chế tiêu dùng thuốc lá chính sách bán hàng thuế thuốc lá cần cung cấp được một vài đề nghị sau đấy:

Một là, mật độ thuế trong giá bán lẻ thuốc lá phải được duy trì ở mức cao mới có hiệu quả trong việc giảm tiêu dùng thuốc lá.

Hai là, khi đã duy trì được mật độ thuế trong giá bán lẻ ở mức cao thì vẫn cần tăng thuế định kỳ hàng năm để chắc chắn bắt kịp mức lạm phát và tăng thêm lương đầu người nhằm giữ sức mua thuốc lá ít nhất không tăng.

Ba là, ứng dụng 1 cơ cấu thuế hỗn hợp gồm thuế đơn vị và thuế mật độ để chắc chắn rằng ngay cả một vài loại thuốc lá cấp thấp cũng phát triển thành khó tiếp cận có người tiêu dùng.

Bốn là, ngoài việc điều tăng chỉnh thuế TTĐB, cần kết hợp điều chỉnh tăng một vài loại thuế gián thu khác để chắc chắn tổng thuế trong giá bán lẻ được duy trì ở mức cao từ 2/3 đến ¾ giá bán lẻ .

Năm là, nguồn thu tăng thêm từ thuế thuốc lá nên được trích 1 phần để lập một vài quỹ phát triển một vài chương trình chăm sóc sức khỏe cùng đồng.