Bài văn điểm cao sử dụng trích dẫn từ tiểu thuyết ngôn tình gây bão mạng xã hội

"Chờ đợi không đáng sợ, đáng sợ là không biết phải chờ đến bao giờ", Mỹ Huyền sử dụng trích dẫn trong tiểu thuyết "Bên nhau trọn đời" của Cố Mạn mở đầ

Trung tâm Langmaster bị tố “ăn cắp bài giảng”: Chỉ có 3/10 cơ sở được cấp phép
Đã có hơn 162.000 học sinh đăng ký thi “Giao thông học đường” trên Internet năm học 2017-2018
5 tiêu chuẩn mà giảng viên sư phạm phải có
“Chờ đợi không đáng sợ, đáng sợ là không biết phải chờ đến bao giờ”, Mỹ Huyền sử dụng trích dẫn trong tiểu thuyết “Bên nhau trọn đời” của Cố Mạn mở đầu bài kiểm tra.

Những ngày qua, trên mạng xã hội lan tỏa bài văn đánh giá về tác phẩm Tự tình II của Hồ Xuân Hương sử dụng một vài trích dẫn trong tiểu thuyết ngôn tình nổi tiếng. Bài văn lôi kéo gần 5.000 lượt thích cộng nhiều bình luận.

Tác giả bài viết là em Nguyễn Thụy Mỹ Huyền (17 tuổi, THPT Phước Hạnh 2, Tiền Giang) – cho biết đây là bài đánh giá thuộc phần II (làm văn) trong đề kiểm tra Ngữ văn lấy điểm 1 tiết lần 2 diễn ra vào ngày 13/11. Cả bài kiểm tra môn Ngữ văn, Huyền đạt 9 điểm.

Bài văn đang gây sốt mạng xã hội

Trong bài văn Mỹ Huyền trích dẫn: “Nàng nắm tay ta, theo ta nửa đời phiêu bạt / Ta hôn mắt nàng, che nàng nửa kiếp lênh đênh”; “Chờ đợi không đáng sợ, đáng sợ là không biết phải chờ đến bao giờ”.

Nữ sinh chia sẻ đôi khi, đọc truyện ngôn tình cũng có hiệu quả lợi nhất định về một vàih hành văn, ngôn từ trau chuốt và tình cảm dành cho từng bài văn nhiều hơn.

Với đề bài: “Cảm nhận của em về tác phẩm Tự tình II của Hồ Xuân Hương”, Mỹ Huyền đã viết như sau:

“Tôi đã từng đọc trong 1 cuốn tiểu thuyết được câu nói: “Nàng nắm tay ta, theo ta nửa đời phiêu bạt. Ta hôn mắt nàng, che nàng nửa kiếp lênh đênh”.

Lúc đây, tôi liền có thể cảm nhận được, đối có người phụ nữ, dù trong bất kỳ thời đại hay hoàn cảnh nào, mong ước nhỏ bé của họ vẫn là có được 1 hạnh phúc trọn vẹn cho riêng mình, có 1 người đàn ông luôn luôn ở bên họ “nửa đời phiêu bạt”, che chở họ suốt “nửa kiếp lênh đênh”.

Nhưng trời trêu ngươi, “hồng nhan bạc mệnh”, tài nữ Hồ Xuân Hương của nước ta ngay cả niềm hạnh phúc nhỏ nhoi đây cũng không có. Mặc dù bà là người tài năng, đi được nhiều nơi, quen biết nhiều danh sĩ nhưng lại chẳng tìm được lang quân như ý.

Bà gửi gắm sự buồn bã của mình vào thơ, viết ra một vài bài thơ về phụ nữ, vừa ca ngợi họ lại như có nỗi niềm thông cảm cho số phận đau chung. Trong đây có bài thơ “Tự tình II” vô cộng vượt trội nói về tâm trạng bi phẫn, đau thương của Hồ Xuân Hương khi đã gắng sức đứng lên tìm hạnh phúc nhưng đổi lại chỉ là hiện thực phũ phàng. Bài thơ nằm trong chùm ba bài “Tự tình” của bà, chỉ vẻn vẹn 8 câu, mỗi câu 7 chữ:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan có nước non.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con”.

Bốn câu đầu của bài thơ đã nói lên tâm trạng của Hồ Xuân Hương trong buổi đêm tĩnh mịch. Thử tưởng tượng xem, 1 người phụ nữ yếu đuối, trong “đêm khuya” vắng, ở không gian “nước non” rộng lớn, tai “văng vẳng” tiếng “trống canh dồn” có bao nhiêu bơ vơ, bao nhiêu sầu tủi?

Chẳng một vài vậy, trong câu thơ thứ hai, cụm từ “hồng nhan” vốn để chỉ người phụ nữ đẹp nhưng Hồ Xuân Hương lại cho nó đi có từ “cái” – cụm từ đây nhuốm chút đau thương khi vẻ đẹp của người phụ nữ quý giá là thế mà không được coi trọng.

Người xưa hay nói “uống rượu giải sầu”, Hồ Xuân Hương cũng vậy, bà tìm đến rượu mong hơi men có thể giúp bà say, giúp bà quên đi, nhưng càng uống say càng khiến tâm thêm tỉnh, nỗi chua xót cứ vậy mà dâng cao. Các nhà thơ khác thường dùng hình ảnh vầng trăng để nói lên nỗi lòng nhớ nhà, nhớ cố hương da diết như Lý Bạch trong bài “Tĩnh dạ tư”:

“Sàng tiền minh nguyệt quang

Nghi thị địa thượng sương

Cử đầu vọng minh nguyệt

Đê đầu tư cố hương”.

Nhưng trong bài Tự tình II tác giả đã dùng nó cho mục đích khác, mượn chu kỳ tròn khuyết của ánh trăng để nói lên nỗi đau thân phận, trăng đã tròn nhưng tình còn khuyết, càng nghĩ càng tủi thân! Bốn câu thơ trên đã nói lên tâm trạng buồn bã bi thương của Hồ Xuân Hương trong buổi đêm vắng vẻ dưới ánh trăng u buồn.

Mà tâm tư Hồ Xuân Hương đâu chỉ có thế! Trong bài thơ nào của bà cũng có một vài câu nói lên sự kiên cường bất khuất. Điển hình là bài “Bánh trôi nước”:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm có nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Mặc dù có cuộc đời “bảy nổi ba chìm” nhưng bà vẫn giữ được “tấm lòng son” không hề phai nhạt. Còn trong Tự tình II, sự kiên cường đây lại được miêu tả theo một vàih khác:

“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”.

Ở đây, bà dùng một vàih thức đảo ngữ kết hợp động từ mạnh “xiên ngang”, “đâm toạc”, giọng điệu mạnh mẽ như chém đinh chặt sắt, dùng hình ảnh rêu đá để nói về chính mình. Rêu đá tuy nhỏ bé, nhỏ bé như số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Nhưng đâu phải nhỏ bé là sẽ buông xuôi?

Bà giống như rêu đá, dù có bị chôn vùi dưới lớp bùn đen vẫn ngạo nghễ vươn lên chống chọi số phận nghiệt ngã, tự tìm hạnh phúc cho mình. Tâm tư của bà trong hai câu thơ đây khiến người khác vạn phần bội phục.

Nhưng đến cuối cộng sự nỗ lực kiên cường đây đổi lại được một vài gì? Chẳng được gì cả, mà ngược lại khiến bà càng càng ngày càng buông xuôi. Người ta hay nói “hy vọng càng nhiều thất vọng càng sâu”, Hồ Xuân Hương đâu chỉ hy vọng đơn thuần mà bà còn tự thân gắng sức vươn lên nhưng vẫn thất bại.

Thử hỏi, so có người chỉ biết hy vọng, nỗi thất vọng của bà sâu bao nhiêu? Cũng có người nói “Chờ đợi không đáng sợ, đáng sợ là không biết phải chờ đến bao giờ”, Hồ Xuân Hương cũng chờ đợi. Bà “ngán” ngẩm chờ mong mãi đến khi mùa “xuân” vùn vụt trôi còn tuổi “xuân” dần hết.

Câu “Mảnh tình san sẻ tí con con”, bà dùng một vàih thức tăng tiến theo hướng giảm dần. Từ “mảnh tình” đến “san sẻ” rồi “tí” cuối cộng là “con con”. Chỉ mỗi chữ “mảnh” thôi đã thấy tình cảm của Hồ Xuân Hương nhận được đã vô cộng nhỏ bé vậy mà còn bị chia sẻ có người khác.

Bi thương bao nhiêu, chỉ có thể cười tự giễu! Nỗi bi kịch đây không phải chỉ mình bà gánh chịu. Trong cái xã hội phong kiến xem phụ nữ như rơm rạ này, nỗi đau chỉ có thể chôn giấu trong lòng hoặc gửi gắm vào thơ, bởi thế làm con người ta càng thêm đau khổ.

Trong bài thơ ta có thể thấy được tác giả dùng giọng điệu có khi bi thương, có khi mạnh mẽ kiên cường, khi lại buông xuôi toàn bộ. Nó kết hợp có một vàih thức tu từ tăng tiến theo hướng giảm dần, đảo ngữ cộng một vàih sử dụng động từ mạnh, từ láy 1 một vàih khéo léo khiến cho bài thơ trở thành 1 tuyệt tác.

Bằng giọng thơ một vàih tân liên tục, khi buồn, khi mạnh mẽ, khi thất vọng, Hồ Xuân Hương đã thành công diễn tả được từ tâm trạng buồn tủi của chính mình trong đêm vắng cho đến sự mạnh mẽ kiên cường như rêu đá và rồi sự thất vọng nặng nề của bà khi phải chứng kiến cảnh cuộc tình của mình không được trọng vẹn, phải chia sẻ cộng người khác.

Đó cũng là bi kịch chung của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Ngày nay, khi xã hội phát triển, địa vị của người phụ nữ càng ngày càng được nâng cao, không biết người phụ nữ GĐ này nhìn về một vài người phụ nữ phong kiến sẽ động được bao nhiêu lòng trắc ẩn?”

Liên quan đến bài văn đang gây sốt mạng xã hội, thầy Trịnh Văn Quỳnh – giáo viên Ngữ văn ở Nam Định nhận xét: “Bài văn trước tiên chắc chắn một vài đề nghị căn bản về kiến thức khi đánh giá bài thơ “Tự tình” của Hồ Xuân Hương.

Nét mới lạ của bài viết là học sinh đã có một vài điện thoại mở rộng bằng một vàih trích dẫn một vài câu nói nổi tiếng trong một vài tiểu thuyết ngôn tình được nhiều KH trẻ yêu thích. Sự điện thoại này có phần môi trường xung quanh và hợp lý vì có sự tương đồng về quan niệm tình yêu và hạnh phúc của người phụ nữ muôn thuở. Cách cảm nhận có thể giúp bài văn giàu cảm xúc, có cái nhìn khác hơn về 1 tác phẩm văn học.

Học sinh có quyền tự do trong một vàih cảm, một vàih viết, không có hạn chế trong việc sử dụng tư liệu ở một vài bài làm. Nhưng học sinh cần tiếp cận 1 tác phẩm văn học không chỉ bằng cảm xúc mà còn bằng lý luận.

Nghị luận về 1 tác phẩm văn học cần làm rõ đặc trưng thể loại, quan niệm nghệ thuật về con người trong GĐ đây cụ thể phải đặt con người trong mối quan hệ có không gian, thời gian nghệ thuật và văn hóa thời đại. Tiểu thuyết ngôn tình và văn học trung đại thế kỷ XVIII-XIX lại không có sự tương đồng cần thiết như thế”.

Tìm hiểu thêm https://giakhanhland.vn/kinh-nghiem-cho-thue-nha/