9 thần đồng nổi tiếng có nhiều đóng góp nhất cho lịch sử nhân loại

Không phải mọi thần đồng đều thành công khi trưởng thành, nhưng 1 số thiên tài dưới đấy đã có rất nhiều đâyng góp cho lịch sử nhân loại.1. Blaise Pasc

Miễn thi tốt nghiệp với thí sinh tham gia đội tuyển Olympic quốc tế
Gần 200 kỹ sư robot nhí sắp dự Ngày hội Robothon quốc gia 2017 tại Hà Nội
Lễ kỷ niệm 30 năm Việt Nam tham gia cuộc thi viết thư Quốc tế UPU
Không phải mọi thần đồng đều thành công khi trưởng thành, nhưng 1 số thiên tài dưới đấy đã có rất nhiều đâyng góp cho lịch sử nhân loại.
1. Blaise Pascal (1623-1662)

Các lĩnh vực chuyên môn: Toán, khoa học môi trường xung quanh, và triết học

Nhà tư tưởng người Pháp vĩ đại Blaise Pascal bắt đầu nghiên cứu kỹ hình học từ khi ở tuổi 12, mặc dù cha ông đã cấm đoán toàn bộ 1 số nỗ lực học tập đây của ông và vứt bỏ toàn bộ sách giáo khoa toán học ra khỏi nhà.

Nhưng sau đây cha của Pascal đã dần bị ấn tượng khi con trai ông tái tạo lại 1 số lý thuyết hình học của Euclid, bởi thế ông bắt đầu mở lòng để chàng trai trẻ tuổi đến 1 số cuộc họp hàng tuần có 1 số nhà toán học ưu tú của Paris. Bước vào tuổi 19, Pascal đã bắt đầu có ý tưởng phát triển dạng máy tính cầm tay, tuy nhiên phát minh này không thực ở trong thời kỳ đây. May mắn thay, thất bại này đã không khiến Pascal phát triển thành trầm cảm, và ông vẫn tiếp tục cống hiến nhiều thành tựu khoa học. Bên cạnh việc xuất bản 1 số bài báo có ảnh hưởng tiến bộ trong hình học, Pascal đã có 1 số đâyng góp đáng kể trong khoa học vật lý, như thí nghiệm sức ép khí quyển và xác định rằng chân không tồn ở ngoại khu khí quyển trái đất. Đóng góp của ông cho triết học bao gồm cuốn “Pascal’s Wager” nổi tiếng.

2. Pablo Picasso (1881-1973)

Các lĩnh vực chuyên môn: hội họa, điêu khắc

Mọi người đều biết Picasso đã đạt được sự nổi tiếng và sự thành công trong nghệ thuật khi đã trưởng thành, nhưng ít người biết Picasso còn là 1 thần đồng. Thực tế, Picasso quan tâm đến việc vẽ tranh thậm chí trước khi ông có thể nói chuyện. Có lẽ đây là nguyên do vì sao ngay khi có thể bập bẹ nói, cậu bé Picasso đã ngay lập tức bắt đầu đề nghị cha mình đưa 1 số cây cọ vẽ của ông cho cậu bé. Và khi đến tuổi đi học, Picasso nhún vai nói rằng cậu sẽ chỉ đi học có điều kiện được làm 1 số điều cậu thích. May mắn thay, hiệu trưởng đã cảm thấy tài năng của cậu bé và chấp nhận có điều kiện của cậu. Nhiều năm sau, nhiều người xem lại 1 số bản vẽ từ thời còn là học sinh của Picasso đã nhận xét cậu bé vẽ như Raphael. Những đâyng góp của Picasso đối có nghệ thuật tân tiến rất lớn. Cho đến khi qua đời, ông đã sáng tạo ra hơn 22.000 tác phẩm nghệ thuật, trong đây rất nhiều tác phẩm nổi tiếng và có giá trị.

3. Maria Agnesi (1718-1799)

Các lĩnh vực chuyên môn: Toán học và thiên văn học

Khi Maria Gaetana Agnesi sinh ra ở Milan vào năm 1718, 1 số cô gái trong xã hội Ý trên lớp được dạy nghề may mặc, nghi lễ và tôn giáo, nhưng không hề được dạy chữ. Thật may mắn, cha cô, 1 nhà toán học, đã cảm thấy trí nhớ và tài năng hoàn hảo của Maria về ngôn ngữ và chọn lọc cho con gái học chữ có hy vọng điều đây sẽ tốt hơn có cô. Khi mới 9 tuổi, Agnesi đã gây ấn tượng có khách mời bằng 1 số bài diễn văn mà cô dịch sang tiếng Latinh. Khi lên 13 tuổi, đã trao đổi về lý thuyết trọng lực của Newton . năm Agnesi 30 tuổi bà đã viết cuốn sách về toán học bao gồm 1 số phát triển mới nhất như tích phân và phân tách. Sau đây, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã viết thư cho Agnesi, khen ngợi công việc của bà và gợi ý bà cho 1 chức vụ ở Đại học Bologna.

4. Marie Curie (1867-1934)

Lĩnh vực chuyên môn: Vật lý, hóa học và phóng xạ

Sinh ra ở Warsaw, Ba Lan, từ khi 4 tuổi Marie Sklodowska đã tự học 1 sốh đọc (tiếng Nga và tiếng Pháp) và là giúp anh chị em của mình học toán. Cũng vào khi 4 tuổi, cô bắt đầu làm mọi người ngạc nhiên có trí nhớ đáng kinh ngạc của mình, khi nhớ lại 1 số sự kiện đã xảy ra từ nhiều năm trước. Vì gia đình gặp khó về tài chính, Marie không theo được giấc mơ học đại học, nhưng vào năm 1891, cô đã tới Sorbonne ở Paris. Ở đây cô đã cộng chồng tương lai là Pierre Curie, cộng nghiên cứu kỹ về 1 số nguyên tố phóng xạ radium và polonium. Ở tuổi ba mươi, Marie cộng chồng sáng lập ra khoa học phóng xạ, họ đã được trao giải Nobel vật lý. Sau khi Pierre qua đời vào năm 1906, Marie tiếp tục công việc của mình, giành giải Nobel thứ hai về hóa học ở tuổi 44.

5. Felix Mendelssohn (1809-1847)

Các lĩnh vực chuyên môn: Piano, organ, và viết nhạc giao hưởng

Cũng nổi tiếng và được phân tách cao gần như Mozart, nhà soạn nhạc Đức Felix Mendelssohn thế kỷ 19 đã sớm có năng khiếu về âm nhạc từ khi còn rất trẻ. Mendelssohn bắt đầu học piano từ khi 6 tuổi, trình diễn lần Thứ nhất vào năm 9 tuổi, và viết ra tác phẩm Thứ nhất của mình khi ông 11 tuổi. Ở lứa tuổi 17 tuổi, ông đã đã đi vào vận hành bản giao hưởng lớn “Giấc mộng đêm hè”, 1 trong 1 số tác phẩm được yêu thích nhất của âm nhạc cổ điển thời kỳ Romantic. Sau đây, vào năm 1835, cha của Mendelssohn qua đời, đấy là GĐ đau buồn của nhà soạn nhạc. Nhưng thay vì bị trầm cảm và u uất do nghiện rượu, ông lại tiếp tục viết bản “Thánh Paul”. Từ đây, ông tiếp tục sáng tác 1 số tác phẩm quan trọng và nổi tiếng, như bản “Hôn lễ tháng ba”. Năm 1843, ở tuổi 34, Mendelssohn sáng lập Học viện Âm nhạc ở Leipzig, nơi ông dạy môn nhạc có Robert Schumann.

6. Jascha Heifetz (1901-1987)

Lĩnh vực chuyên môn: Violin maestro

Sự quan tâm của Jascha có âm nhạc đến rất sớm, khi mới tám tháng tuổi, khi cậu bé mỉm cười khi cha mình chơi violong, và nhăn mặt tỏ vẻ không vui khi ông đánh sai. Khi Jascha lên 3 tuổi, cậu bé được nhận cây violin Thứ nhất của mình và mau chóng yêu thích nó. Jascha bắt đầu được tham dự 1 số buổi hòa nhạc khi mới 5 tuổi. Vào năm 16 tuổi, gia đình Jascha chuyển đến Hoa Kỳ ở đấy ông đã trở thành thần tượng âm nhạc của nhiều thế hệ. Heifetz tiếp tục nhiều tour lưu diễn và thu âm vào năm 1970 ông giành được nhiều Grammy trong suốt cuộc đời theo đuổi âm nhạc của mình.

7. John von Neumann (1903-1957)

Các lĩnh vực chuyên môn: Cơ học lượng tử, lý thuyết tài liệu, khoa học máy tính

Sinh ra ở Budapest, Hungary von Neumann đã gây kinh ngạc cho người lớn và khiến 1 số cô cậu bé cộng 6 tuổi như cậu rất ghen tị khi biết 1 sốh chia số tám chữ số bằng biện pháp tính nhẩm trong đầu, nói bằng tiếng Hy Lạp và ghi nhớ 1 số trang trong sổ tel. Ông đã xuất bản bài báo khoa học Thứ nhất của mình khi vẫn còn là 1 thiếu niên. Sau khi được nhận công việc giảng dạy ở Đại học Princeton, Hoa Kỳ ông đã đổi sang tên John. Tại Mỹ, ông làm việc về toán học lý thuyết và 1 số dự án thực ở khác nhau, bao gồm phát triển bom hydro và thi công 1 trong 1 số chiếc máy tính Thứ nhất.

8. Jean Piaget (1896-1980)

Lĩnh vực chuyên môn: Tâm lý trẻ em

Khi Jean Piaget lớn lên ở Neuchâtel, Thụy Sĩ, sự quan tâm của ông dành cho động vật học, mặc dù rất nhỏ tuổi nhưng Jean có thể ngồi hàng tiếng để quan sát ốc sên, hay gà mái… Nhưng sau này lớn lên sở thích của ông chuyển sang tâm lý học. Lúc này nền móng từ động vật học của Piaget đã khiến ông tìm ra “giải đáp sinh học về tri thức”. Cho rằng quan sát trẻ em có thể dẫn đến câu trả lời, ông đã đưa ra 1 1 sốh mới để làm sáng tỏ 1 số suy nghĩ của trẻ: bằng 1 sốh theo dõi, lắng nghe và nói chuyện có trẻ. Piaget đã suy luận rằng tâm trí của 1 đứa trẻ không phải là 1 tấm bảng trắng, và từ đấy ông đã đưa ra 1 số thử nghiệm 1 số lý thuyết mới về địa cầu và biện pháp vận hành. Sau 75 năm nghiên cứu kỹ khoa học của ông đã tạo ra 1 số lĩnh vực tâm lý mới như chuyện trò, tâm sự khai thác tâm lý từ trẻ lên 3.

9. Paul Erdős (1913-1996)


Lĩnh vực chuyên môn: Toán học

Paul Erdős đã biết nhân ba chữ số từ khi lên ba tuổi. Lên 4, ông bắt đầu chơi đùa có số nguyên tố và số âm. Không lâu sau, ông tìm ra trò chơi mới là hỏi mọi người về tuổi của họ và sau đây tính toán xem họ đã sống được bao nhiều giây. Ngay từ khi còn nhỏ đã say đắm 1 số con số, Erdős lớn lên và trở thành nhà toán học có năng suất nhất trong lịch sử, tác giả hoặc đồng tác giả cho gần 1.500 bài toán. Trên thực ở, cho đến ngày nay 1 số nhà toán học vẫn cho rằng được cộng tác có Erdős là 1 điểm rất danh tiếng và may mắn.

Theo danviet.vn

Tìm hiểu thêm https://giakhanhland.vn/kinh-nghiem-cho-thue-nha/