Cuốn sách “bắt lỗi” Nhà giáo Nguyễn Lân: Dù tâm huyết nhưng vẫn nhiều thiếu sót

Việc Hoàng Tuấn Công mở bán 1 công trình khảo cứu tâm huyết và phê bình một số chỗ sai trong sách của Nhà giáo Nguyễn Lân là điều đáng ghi nhận. Nhưng

Khám phá cuốn từ điển tranh đầy thú vị dành cho trẻ em
Gợi ý viết thư UPU lần 47: Cảnh báo vấn đề bạo lực
Hải Phòng: Trường học dự kiến thu hơn 10 triệu đầu năm với học sinh lớp 1
Việc Hoàng Tuấn Công mở bán 1 công trình khảo cứu tâm huyết và phê bình một số chỗ sai trong sách của Nhà giáo Nguyễn Lân là điều đáng ghi nhận. Nhưng cuốn sách của Công không phải là toàn bích, là chỗ nào phê và khảo cứu đều đúng.
Bìa cuốn sách của Hoàng Tuấn Công

Chúng tôi viết một số bài này là nhằm góp ý cho anh chứ không phải là “bươi móc”, bắt bẻ và cũng không phải cố bảo vệ cho ông Nguyễn Lân như quan điểm của 1 số quý khách trên mạng xã hội. Sau đấy là một số câu mà theo tôi cần thảo luận:

“Bà dì xù xì xó bếp”

Lời bình của Nhà giáo Nguyễn Lân: Bà dì xù xì xó bếp. Chê một số người dì không có tài năng gì. Lời bình của Hoàng Tuấn Công: Giải thích bởi thế là lạc đề. Thành ngữ chê người dì xấu tính hoặc không đủ tư một sốh làm người dì. Không phải chê “tài năng” như GS nói. Câu này đồng nghĩa câu “Bác xác bác xơ”.

Thực ra, câu này chưa đủ bằng chứng để nói bà dì xấu tính, không đủ tư một sốh làm người dì. Xó bếp là nơi người phụ nữ thường sinh hoạt bởi công việc nội trợ nấu nướng chăm lo gia đình của họ. Mà ở xó bếp thì nhách nhác, lôi thôi nên nhìn một số bà xù xì, xấu xí, không đẹp đẽ sáng sủa. Câu này có nghĩa bóng là một số bà quanh năm quanh quẫn xó bếp, không biết gì về thế sự, quê mùa, lỗi thời. Người phụ nữ như thế thì “không có tài năng gì” theo một sốh lí giải của ông Nguyễn Lân có thể hiểu được. Còn câu “Bác xác bác xơ” lại biểu hiện hiện trạng thảm hại, nghèo nàn của người bác, không đồng nghĩa có câu “Bà dì xù xì xó bếp”. Xác xơ cũng như xơ xác: “Nghèo xơ nghèo xác” là rất nghèo.

“Chết không nhắm mắt được”

Lời bình của Nhà giáo Nguyễn Lân “Chết không nhắm mắt được”. Nói lên sự đau khổ chua xót của cha mẹ trước tội lỗi xấu xa của con cái. Lời phê của Hoàng Tuấn Công: Ai chết không nhắm mắt được? Thành ngữ không chỉ nói “cha mẹ trước tội lỗi xấu xa của con cái” mà có thể một số ai đây khi chết còn bị dằn vặt, luyến tiếc bởi sai lầm hay tội lỗi do mình gây ra. Nó cũng là lời nguyền rủa, chửi bới kẻ mà mình căm ghét.

Thực ra không chỉ có vậy, người chết không nhắm mắt còn có sự tiếc nuối cuộc sống, tiếc nuối chưa gặp mặt người thân xa một sốh lâu ngày, mong gặp người thân trước khi nhắm mắt, thương con cái còn ngây thơ mà không đành nhắm mắt. Có trường hợp người nhà phải khuyên nhủ, an ủi, người đây mới đành nhắm mắt.

“Thờ thời dễ, gửi lễ thời khó”, “Thờ thời dễ, gửi lễ thời khó”

Lời bình của Nhà giáo Nguyễn Lân: Thờ thời dễ, gửi lễ thời khó Nói sự băn khoăn của người phải gửi đồ lễ đến cúng cha mẹ hay ông bà ở 1 nơi nào, không biết gửi bao nhiêu là vừa. Lời bình của Hoàng Tuấn Công: Câu thành ngữ này phải viết đúng là: “Thờ thời dễ, giữ lễ thời khó”. (Dị bản: “Thờ dễ, lễ khó”) Nghĩa là việc thờ cúng ông bà cha mẹ không khó, cái khó là thờ cúng phải thật kính cẩn, thật lòng, giữ đúng lễ. Thành ngữ Hán-Việt có nhiều câu đề cao sự “giữ lễ” (kính cẩn, thật lòng) trong khi cúng tế, thờ phụng thần thánh, tổ tiên, (còn được sử dụng dưới dạng hoành phi treo ở gian thờ cúng) như: “Tế thần như thần tại” (Tế thần kính cẩn như thần đang hiện diện trước mặt); “Sự tử như sự sinh” (Thờ người chết kính cẩn như khi còn sống). Hoặc câu thành ngữ thuần Việt: “Bắt thiếu giỗ, không ai bắt cỗ lưng”, nghĩa là vật phẩm dâng cúng không câu nệ nhiều ít, quan trọng là ý thức của con cháu có giữ lễ (góp giỗ, làm giỗ) hay không.

Quan điểm của Hoàng Tuấn Công không có gì sai nhưng anh quả quyết cho rằng chỉ có “Thờ thời dễ, giữ lễ thời khó” và không có câu “Thờ thời dễ, gửi lễ thời khó”. Tục ngữ, thành ngữ có nhiều dị bản và trong nhiều câu chính bản thân Hoàng Tuấn Công cũng “phê” cụ Nguyễn Lân không chỉ có bản này mà có một số bản khác. Bên cạnh câu “Thờ thời dễ, giữ lễ thời khó” thì vẫn có câu “Thờ thời dễ, gửi lễ thời khó” và lời bình của cụ Nguyễn Lân là đúng. Câu “Bắt thiếu giỗ, không ai bắt cỗ lưng” nói về việc cúng bái, cốt lòng thành, chủ yếu là hướng về người cúng lễ, chủ lễ còn người đi gửi lễ thì khác. Gửi lễ còn tùy thuộc vào phong tục của từng vùng, nếu không biết thì thật là khó xử. Tôi nhớ lần ông chú gọi bà nội tôi bằng O (cô) mất ở Huế, tôi đến viếng khi ông đã chôn cất rồi. Tôi cứ nghĩ như ở quê tôi và 1 số nơi khác, mua hoa quả, đồ cúng nhưng gia đình không nhận, bắt để ngoài có về vì phong tục ở Huế là khi người mất đã đưa ra nơi an nghỉ thì người đến viếng chỉ đến tay không, chỉ đến thắp hương thôi. Ông chú tôi vốn cộng quê nhưng vào Huế sinh sống thì “nhập gia phải tùy tục”. Những lễ lớn, mà chủ lễ là người giàu, người nghèo thật khó đi lễ, không biết ý họ thế nào mà đi cho phải. Đi gửi lễ không chỉ để cúng mà thực ra cúng đã có gia chủ lo rồi mà chủ yếu là để tham dự vào việc tiệc lễ nên đi ít, không phải gia chủ nào cũng hài lòng mặc dù không nói ra. Muốn giữ thể diện phải cố gửi lễ kha khá, không thì tìm một sốh cáo.

Bàn thêm về “Lành làm gáo, vỡ làm môi” và “Lành làm thúng, thủng làm mê”

Dân gian mục đích muốn làm gáo và làm thúng nhưng sự thể diễn ra không như ý muốn thì gáo vỡ có thể làm môi và thúng thủng có thể tận dụng làm mê. Người ta có thể hạ mình, xuống cấp trong 1 tình huống không hay xẩy ra. Tuy nhiên, câu “Lành làm thúng, thủng làm mê”, từ “thủng” có thể được nói cho vần vè chứ thực tại xẩy ra thường là xể vành, đứt vành và bởi thế thúng xể có thể làm mê được. Tình huống này ý của GS.Lân là hợp lí. Nhưng lí giải của Hoàng Tuấn Công chỉ đúng có vế sau “sẵn sàng hưởng ứng mọi tình huống, kể cả sự đổ vỡ”. Người ta muốn yên lành, không ai muốn đổ vỡ nhưng tình thế xảy ra thì cũng hưởng ứng, không hưởng ứng cũng khó lòng cứu vãn. Người ta hưởng ứng tình thế như sự đã rồi. Còn vế trước “không sợ đụng chạm, không sợ hỏng việc” là chưa đúng. Thái độ sẵn sàng thua đủ bởi thế không thích hợp có hai câu này. Hai câu này nói về mối quan hệ giữa chủ sở hửu và vật có chứ không phải quan hệ giữa hai đối tượng xa lạ mà bất chấp. Xứng đáng thì ta cho làm gáo, không xứng thì ta làm môi, thế thôi, kiểu ứng xử linh hoạt, không vứt bỏ mà tận dụng. Như vậy, hai câu này có khả năng đa nghĩa, mỗi nghĩa ứng có 1 tình cảnh nhất định.

Đồng ruộng

Ông Nguyễn Lân giải nghĩa từ: Đồng ruộng. Nông thôn nhìn chung: Trở lại đồng ruộng xí nghiệp, công trường. Hoàng Tuấn Công phê: “Nông thôn nhìn chung” có nghĩa rộng hơn “đồng ruộng” nhiều. Nó bao gồm cả phong cảnh, đường sá, ruộng đồng, làng mạc, nhà cửa….Trong khi “đồng ruộng” chỉ là khu ruộng, mảnh đất phục vụ cho việc cấy cày, trồng trọt mà thôi. Giống như “xí nghiệp, công trường” không phải đô thị nhìn chung mà là nơi làm việc của công nhân.

Hoàng Tuấn Công cắt nghĩa nông thôn là đúng nhưng giải nghĩa từ “đồng ruộng” chỉ là khu ruộng, mảnh đất phục vụ cho việc cấy cày, trồng trọt chưa đúng. Khu ruộng, mảnh mất là 1 khu vực hạn chế, còn “đồng ruộng” có nhiều khu ruộng, mảnh đất trồng trọt, tương ứng có cánh đồng, là dao động không gian đất dùng cho việc cày cấy, trồng trọt. Các từ “xí nghiệp, công trường” cũng được Hoàng Tuấn Công giải nghĩa rất hẹp, chúng không chỉ là nơi làm việc của công nhân. “Công trường” là nơi áp dụng công việc thi công hoặc khai thác, có tập trung người và phương tiện; còn “xí nghiệp” là cơ sở sản xuất, kinh doanh. Trong hai đơn vị này, người làm công là công nhân và có thể chưa phải công nhân.

“Đồng ruộng” có thể gọi là nông thôn khi dùng phương pháp hoán dụ, lấy vật đại diện thay cho toàn thể. Anh Công phê ông Nguyễn Lân giải nghĩa của từ hẹp hơn nghĩa vốn có của nó nhưng anh lại mắc phải lỗi đây.

Tìm hiểu thêm https://giakhanhland.vn/kinh-nghiem-cho-thue-nha/